Quan hệ giữa Luật sư với khách hàng

Nhận và thực hiện yêu cầu của khách hàng Luật sư phải tôn trọng sự lựa chọn của khác hàng, chỉ nhận vụ việc theo khả năng của mình và thực hiện vụ việc trong phạm vi yêu cầu của khác hàng.

Có hai nguyên tắc chung phải tuân theo khi Luật sư nhận yêu cầu đại diện cho khách hàng. Nguyên tắc đầu tiên là khách hàng phải có quyền tự lựa chọn bất cứ Luật sư nào mà mình muốn. Nguyên tắc thứ hai là Luật sư chỉ nhận vụ việc mà Luật sư đưa ra được những lời bào chữa vô tư cho khách hàng của mình.

 

Khi nhận vụ việc Luật sư phải thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Luật sư trong việc thực hiện yêu cầu của khách hàng. Luật sư không được chuyển giao vụ việc mà mình đang đảm nhận cho Luật sư khác hoặc làm thay trừ trường hợp khách hàng đồng ý hoặc bất khả kháng.

Điều quan trọng trong mối quan hệ giữa Luật sư với khách hàng là Luật sư có thể đem đến cho khách hàng lời khuyên vô tư, không thiên vị, không bị áp lực bởi ảnh hưởng từ bên thứ ba, khách hàng phải được lựa chọn Luật sư bằng ý chí tự do của riêng mình và Luật sư không bị áp lực từ một bên thứ ba nào có thể làm ảnh hưởng tới tính chất của tư vấn cho khách hàng.

Luật sư có quyền từ chối cung cấp dịch vụ pháp lý nếu yêu cầu của khách hàng không có căn cứ. Nếu yêu cầu của khách hàng vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc nếu thực hiện việc đó dẫn đến việc Luật sư vi phạm pháp luật hoặc quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư thì Luật sư phải từ chối thực hiện yêu cầu của khách hàng.

Luật sư phải từ chối đại diện cho khách hàng trong những trường hợp sau:
- Việc chấp nhận hoặc tiếp tục làm đại diện có thể dẫn đến một hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm những quy tắc về đạo đức nghề nghiệp Luật sư.
- Nếu Luật sư được yêu cầu tiến hành một vụ kiện chống lại khách hàng cũ.
- Nếu có chắc chắc xảy ra xung đột về quyền lợi giữa Luật sư và khách hàng hoặc giữa hai khách hàng của Luật sư.

- Khi Luật sư không đủ khả năng làm hoặc không đủ thời gian cần thiết cho vụ việc của khách hàng.

Thông thường Luật sư phải từ chối hoặc rút lui khỏi vụ việc nếu khách hàng yêu cầu Luật sư làm một việc phạm pháp hoặc vi phạm quy tắc đạo đức nghề Luật sư.

Luật sư không nên từ chối nhận yêu cầu của khách hàng chỉ vì vụ kiện của họ không gây được tiếng tăm cho Luật sư hoặc vì phản ứng thù địch từ quần chúng.

Luật sư có quyền lựa chọn và rút lui nếu việc đại diện ảnh hưởng bất lợi đến quyền lợi của khách hàng.Việc rút lui cũng được coi là có cơ sở pháp lý khi khách hàng buộc Luật sư phải làm một việc mà Luật sư tin rằng phạm pháp hoặc gian dối. Luật sư không được ủng hộ những hành vi như vậy ngay cả khi Luật sư không phải là chủ xướng những hành vi này.

Luật sư cũng được phép từ chối nếu các dịch vụ của Luật sư bị lợi dụng ngay cả khi việc lợi dụng này chỉ gây tổn hại cho khách hàng. Luật sư cũng có thể rút lui nếu khách hàng từ chối tuân theo những điều khoản của bản thoả thuận về đại diện, ví dụ thoả thuận về thù lao, chi phí Toà án, hoặc thoả thuận hạn chế mục đích của việc đại diện.

Ngay cả khi bị khách hàng từ chối một cách vô lý, Luật sư vẫn phải đưa ra mọi biện pháp thích hợp để giảm hậu quả xấu cho khách hàng. Luật sư chỉ có thể giữ lại hồ sơ như một vật đảm bảo cho việc thanh toán thù lao trong chừng mực được pháp luật cho phép.

Ngược lại khách hàng có quyền từ chối Luật sư bất cứ lúc nào, bất kể có lý do hay không sau khi đã thanh toán cho các dịch vụ của luật sư.

Khi thực hiện nghĩa vụ của mình bất kể với tư cách là cố vấn, tư vấn, đàm phán hoặc bào chữa, Luật sư phải thể hiện một trình độ hoặc kỹ năng nhất định.

Một Luật sư không nên hành nghề ở những lĩnh vực mà mình không đủ năng lực, Luật sư phải có lòng tự trọng nghề nghiệp.

Luật sư không được xử lý mọt vấn đề pháp lý mà luật sư biết hoặc phải biết rằng mình không đủ khả năng; xử lý một vấn đề pháp lý thiếu sự chuẩn bị đầu đủ trong các trường hợp cụ thể.

Luật sư phải tuân theo những yêu cầu của khách hàng và phải bàn bạc với khách hàng về phương pháp xử lý vụ việc. Cả khách hàng và Luật sư đều có quyền và nghĩa vụ với mục đích và phương pháp thực hiện.Luật sư không được tìm kiếm những mục đích hoặc sử dụng những phương pháp nếu chỉ vì khách hàng muốn Luật sư làm như vậy.

Luật sư không được tư vấn cho khách hàng tham gia hoặc thực hiện những hành vi mà Luật sư biết là vi phạm hoặc gian trá. Tuy nhiên, Luật sư có thể thảo luận về hậu quả pháp lý của hành vi mà khách hàng định thực hiện và có thể tư vấn hoặc giúp đỡ khách hàng xác định hiệu lực pháp lý, phạm vi, phương thức hoặc luật áp dụng.

Nếu luật sư biết rằng khách hàng chờ đợi ở luật sư một sự giúp đỡ để làm một việc bất hợp pháp, Luật sư phải nói rõ cho khách hàng giới hạn đạo đức mà nghề luật cho phép.

Luật sư có trách nhiệm bảo vệ lợi ích tốt nhất của khách hàng trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.

Luật sư phải thực hiện nghề nghiệp trong kuân khổ pháp luật, hoàn toàn vì lợi ích của khách hàng và không bị ràng buộc bởi những thoả hiệp ảnh hưởng đến lòng trung thành, không được phép đề quyền lợi riêng của Luật sư, quyền lợi của khách hàng hoặc nguyện vọng của người thứ ba ảnh hưởng đến lòng trung thành của Luật sư đối với khách hàng.

Những việc luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng

Luật sư nhận thay mặt khách hàng có nghĩa vụ thực hiện những yêu cầu của khách hàng một cách thận trọng với một kỹ năng phù hợp. Luật sư cũng phải hành động trong khuôn khổ thầm quyền mà khách hàng trao cho. Vì lý do này, Luật sư phải khẳng định chính xác yêu cầu của khách hàng khi nhận việc.

Luật sư phải giữ bí mật về công việc kinh doanh và các quan hệ của khách hàng. Quy tắc này cũng áp dụng đối với các nhân viên của Luật sư . Luật sư phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm những quy định này của các nhân viên của mình.

Luật sư phải tuân thủ các nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp.Ngoài những trách nhiệm với khách hàng Luật sư còn là một nhân viên của nền tư pháp. Luật sư phải thể hiện trách nhiệm này trước Toà án khi hai trách nhiệm này xung đột với nhau.

Chấm dứt hợp đồng dịch vụ.

Một Luật sư không được ngừng tiến hành vụ việc cho khách hàng trừ khi có lý do chính đáng và gửi thông báo đúng lúc việc này cho khách hàng. Những lý do chính đáng có thể là khi yêu cầu của khách hàng dẫn Luật sư tới chỗ vi phạm những quy định đạo đức hoặccó bất đồng lớn giữa họ về lòng tin về sự tín nhiệm.

Khi hợp đồng giữa Luật sư và khách hàng kết thúc Luật sư phải trao cho khách hàng toàn bộ tài liệu và tài sản thuộc sở hữu của khách hàng hoặc giữ chúng nếu khách hàng yêu cầu như vậy và trả tiền lại cho khách hàng.

Nếu khách hàng còn nợ tiền Luật sư thì Luật sư có thể giữ lại tài liệu và tài sản của khách hàng cho tới khi Luật sư được thanh toán đầy đủ. Tuy nhiên, Luật sư không thể bán chúng để lấy tiền thù lao.

10 điều Luật sư không được làm với khách hàng theo Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư:

- Nhận, chiếm giữ, sử dụng tiền, tài sản của khách hàng trái với thỏa thuận giữa luật sư và khách hàng.

- Gợi ý, đặt điều kiện để khách hàng tặng cho tài sản hoặc lợi ích khác cho luật sư hoặc cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em của luật sư.

- Nhận tiền hoặc bất kỳ lợi ích nào khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện công việc gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng.

- Tạo ra hoặc lợi dụng các tình huống xấu, những thông tin sai sự thật, không đầy đủ hoặc bất lợi cho khách hàng để gây áp lực nhằm tăng mức thù lao đã thỏa thuận hoặc có được lợi ích khác từ khách hàng.

- Sử dụng thông tin biết được từ vụ việc mà luật sư đảm nhận để mưu cầu lợi ích không chính đáng.

- Thông tin trực tiếp cho khách hàng hoặc dùng lời lẽ, hành vi ám chỉ để khách hàng biết về mối quan hệ cá nhân của luật sư với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác nhằm mục đích gây niềm tin với khách hàng về hiệu quả công việc hoặc nhằm mục đích bất hợp pháp khác.

- Cố ý đưa ra những thông tin làm cho khách hàng nhầm lẫn về khả năng và trình độ chuyên môn của mình để tạo niềm tin cho khách hàng ký kết hợp đồng.

- Hứa hẹn, cam kết bảo đảm kết quả vụ việc về những nội dung nằm ngoài khả năng, điều kiện thực hiện của luật sư.

- Lợi dụng nghề nghiệp để quan hệ tình cảm nam nữ bất chính với khách hàng.

- Lạm dụng các chức danh khác ngoài danh xung luật sư trong hoạt động hành nghề để mưu cầu lợi ích trái pháp luật.